Kết quả kiểm tra blacklist IP nghĩa là gì?

Mỗi danh sách trả về một trong ba trạng thái. Sạch nghĩa là IP không có trong danh sách đó. Bị liệt kê nghĩa là danh sách đang ghi IP này là nguồn spam hoặc là dải IP không nên gửi thư trực tiếp. Lỗi hoặc hết thời gian chờ chỉ là chưa hỏi được danh sách.

Theo RFC 5782, máy chủ đảo ngược 4 phần của IP rồi ghép với tên miền danh sách: kiểm tra 192.0.2.99 trên bad.example.com là tra tên 99.2.0.192.bad.example.com. Có bản ghi trả về (thường trong dải 127.0.0.0/8) tức là bị liệt kê.

Riêng Spamhaus từ chối truy vấn đi qua DNS công cộng và trả mã 127.255.255.254. Mã này chỉ báo truy vấn bị chặn, không cho biết IP sạch hay bẩn.

Tên danh sách quan trọng hơn số dòng đỏ. Bị liệt kê ở một danh sách nhỏ, ít hệ thống dùng, thư vẫn có thể tới hộp thư đến bình thường. Bị liệt kê ở Spamhaus hay Barracuda thì cần xử lý ngay.

Vì sao IP bị đưa vào blacklist?

IP bị đưa vào blacklist khi danh sách ghi nhận thư rác hoặc dấu hiệu lạm dụng phát ra từ địa chỉ đó: thư gửi trúng bẫy spam (spamtrap), người nhận bấm báo spam, hoặc máy bị nhiễm mã độc. Phần lớn chủ IP bị kẻ xấu chiếm quyền chứ không tự gửi spam.

  • Mail server bị lợi dụng: để relay mở, hoặc một hộp thư có mật khẩu yếu bị dò ra rồi dùng để gửi hàng nghìn thư.
  • Website WordPress nhiễm mã độc, chèn đoạn mã gửi thư từ chính máy chủ hosting.
  • Máy tính trong mạng công ty nhiễm botnet và tự gửi spam ra ngoài.
  • Gửi email marketing tới danh sách mua sẵn, tỉ lệ báo spam cao.
  • Thuê VPS giá rẻ và nhận lại IP mà người thuê trước đã làm bẩn.

Trường hợp cuối dễ phòng nhất. Vừa thuê VPS, hãy kiểm tra IP bị blacklist chưa trước khi cài mail server, IP đã bẩn thì yêu cầu đổi ngay.

IP mạng nhà Viettel, VNPT, FPT bị blacklist có sao không?

Phần lớn là không sao. IP động của mạng gia đình và 4G hay nằm trong Spamhaus PBL. Theo Spamhaus, PBL là danh sách dải IP người dùng cuối không nên gửi email thẳng tới máy chủ nhận, và IP trong đó không hẳn là IP xấu.

PBL chỉ chặn máy trong nhà gửi thư trực tiếp. Bạn gửi Gmail qua trình duyệt hay điện thoại vẫn bình thường.

Mạng 4G thì khác ở chỗ một IP công cộng dùng chung cho nhiều thuê bao (CGNAT). Một máy trong nhóm nhiễm mã độc, cả nhóm có thể bị bắt giải captcha liên tục hoặc bị trang web chặn. Lỗi này nằm ở hệ thống chấm điểm IP của từng trang, không nằm ở DNSBL.

Việc nên làm:

  • Không chạy mail server ở nhà thì không cần gỡ PBL.
  • Bị captcha liên tục: khởi động lại modem hoặc bật tắt dữ liệu di động để nhận IP mới. Đọc thêm IP tĩnh và IP động khác nhau thế nào để biết khi nào IP đổi.
  • Cần gửi thư từ máy chủ riêng: thuê IP tĩnh hoặc gửi qua dịch vụ email có máy chủ SMTP xác thực.

Cách gỡ IP khỏi blacklist

Gỡ IP khỏi blacklist gồm ba việc theo thứ tự: sửa nguyên nhân, gửi yêu cầu gỡ trên trang của từng danh sách, rồi kiểm tra lại sau vài giờ. Gửi yêu cầu khi chưa sửa lỗi thì IP sẽ bị liệt kê lại ngay khi spam tiếp tục phát ra.

  1. Sửa nguyên nhân: đổi mật khẩu mọi hộp thư, quét mã độc website, đóng relay mở.
  2. Gửi yêu cầu gỡ trên trang của danh sách đang liệt kê IP.
  3. Kiểm tra lại bằng ô phía trên sau vài giờ.

Mỗi danh sách có cách gỡ riêng:

  • Spamhaus: tra IP và gửi yêu cầu tại Spamhaus Blocklist Removal Center.
  • Barracuda: điền form trên Barracuda Central. Barracuda ghi rằng yêu cầu có giải thích hợp lệ thường được xử lý trong 12 giờ.
  • SpamCop: không cần gửi yêu cầu. IP tự được gỡ sau 24 giờ không có báo cáo spam mới.
  • UCEPROTECT: cấp 1 tự hết hạn sau 7 ngày không có lạm dụng. Cấp 2 liệt kê cả dải IP, cấp 3 liệt kê cả nhà cung cấp (theo ASN).

Gặp UCEPROTECT cấp 2 hoặc cấp 3, chính UCEPROTECT ghi rằng bạn nhiều khả năng vô can nếu không đứng tên cả dải IP. Hãy báo nhà cung cấp hosting xử lý. Đừng trả tiền cho bất kỳ dịch vụ "gỡ nhanh" nào.

Gmail và Microsoft có hệ thống chặn riêng, không nằm trong DNSBL. Với Gmail, xem điểm tín nhiệm của IP và tên miền gửi thư trong Google Postmaster Tools. Thư tới Microsoft 365 bị từ chối vì IP thì gửi yêu cầu tại cổng gỡ IP của Microsoft (sender.office.com).

Thiết lập để email ít bị đánh dấu spam

Email ít bị đánh dấu spam khi máy nhận xác minh được người gửi. Bốn thiết lập cần có: PTR (DNS ngược) của IP trỏ về tên miền gửi thư, bản ghi SPF liệt kê IP được phép gửi, chữ ký DKIM và chính sách DMARC.

Gửi từ IP tĩnh riêng thì điểm tín nhiệm không bị người dùng chung kéo xuống. Thiếu PTR là lỗi hay gặp ở VPS mới thuê. PTR do bên đứng tên IP đặt, nên bạn không sửa được trong trang quản lý tên miền. Phải vào bảng điều khiển VPS hoặc gửi yêu cầu cho nhà cung cấp. Đặt xong, tra cứu nhà mạng và hostname của IP để xem PTR đã đúng tên miền chưa.

Câu hỏi thường gặp

Kiểm tra blacklist IP có miễn phí không, có giới hạn số lần không?

Công cụ kiểm tra blacklist IP trên CheckIP miễn phí và không cần đăng ký tài khoản. Bấm kiểm tra liên tục trong vài phút không cho kết quả mới hơn. Các danh sách và bộ nhớ đệm DNS đều cập nhật theo chu kỳ riêng, nên sau khi gửi yêu cầu gỡ, bạn đợi vài giờ rồi hãy kiểm tra lại.

Bao lâu thì IP được gỡ khỏi blacklist?

Tùy danh sách. SpamCop tự gỡ sau 24 giờ không có báo cáo mới. Barracuda xử lý yêu cầu hợp lệ trong khoảng 12 giờ. UCEPROTECT cấp 1 tự hết hạn sau 7 ngày sạch. Kể cả khi danh sách đã gỡ, kết quả có thể chậm vài giờ mới đổi vì các máy chủ bản sao và bộ nhớ đệm DNS chưa cập nhật.

Đổi IP có thoát khỏi blacklist không?

Với mạng gia đình dùng IP động thì có: khởi động lại modem là nhận IP khác. Với mail server, đổi IP mà chưa sửa nguyên nhân thì IP mới cũng sớm bị liệt kê. IP mới còn chưa có lịch sử gửi thư, nên những ngày đầu hãy gửi số lượng nhỏ rồi tăng dần.

DNSBL và RBL khác nhau thế nào?

Hai tên gọi chỉ cùng một loại danh sách. RBL (Real-time Blackhole List) là tên danh sách đầu tiên do Dave Rand và Paul Vixie lập năm 1997, sau thuộc MAPS. DNSBL là tên kỹ thuật chung, chỉ mọi danh sách tra qua DNS. Người dùng Việt Nam hay gọi chung là blacklist.

Website bị Google cảnh báo "trang web lừa đảo" có phải do IP bị blacklist không?

Không. Cảnh báo màu đỏ trên Chrome đến từ Google Safe Browsing, hệ thống chấm trang web theo nội dung và mã độc, không theo DNSBL. Chủ website xem lý do trong Google Search Console, báo cáo Vấn đề bảo mật. Muốn biết website đang chạy trên IP nào, hãy kiểm tra IP và vị trí máy chủ của website.