Địa chỉ IP là dãy số định danh một thiết bị trên mạng dùng giao thức Internet (Internet Protocol), để dữ liệu gửi đi và trả về đúng máy. Mỗi gói tin trên Internet đều ghi hai địa chỉ IP: nơi gửi và nơi nhận. Hiện có hai phiên bản chạy song song. IPv4 có dạng 4 số thập phân như 192.0.2.15. IPv6 dài hơn nhiều, ví dụ 2001:db8::8a2e:370:7334. Điện thoại, laptop, smart TV hay camera, thiết bị nào vào mạng cũng phải có một địa chỉ như vậy. Muốn biết máy mình đang ra Internet bằng IP nào, bạn có thể kiểm tra địa chỉ IP của bạn ngay ở trang chủ CheckIP.
Cấu trúc địa chỉ IP: IPv4 và IPv6
Địa chỉ IPv4 dài 32 bit, viết thành 4 số thập phân từ 0 đến 255, ngăn cách bằng dấu chấm. Địa chỉ IPv6 dài 128 bit, viết thành 8 nhóm số hệ 16, ngăn cách bằng dấu hai chấm. Độ dài khác nhau nên tổng số địa chỉ của hai phiên bản chênh nhau rất xa.
Các địa chỉ ví dụ trong bài này đều thuộc dải dành riêng cho tài liệu: 192.0.2.0/24 và 203.0.113.0/24 theo RFC 5737, 2001:db8::/32 theo RFC 3849. Chúng không trỏ tới máy thật nào trên Internet.
Địa chỉ IPv4 bao gồm bao nhiêu bit?
Địa chỉ IPv4 bao gồm 32 bit, tức 4 byte. Chuẩn này được mô tả trong RFC 791 công bố năm 1981. 32 bit chia thành 4 phần, mỗi phần 8 bit, gọi là octet. Một octet có 2^8 = 256 giá trị, nên mỗi số chỉ nằm trong khoảng 0 đến 255. Địa chỉ 192.0.2.256 vì thế là sai.
Lấy 192.0.2.15 đổi sang nhị phân sẽ được 11000000.00000000.00000010.00001111. Máy tính chỉ đọc dạng nhị phân này. Dạng thập phân có dấu chấm là để người đọc dễ nhớ. Tổng số địa chỉ IPv4 là 2^32 = 4.294.967.296, khoảng 4,3 tỷ. Con số đó nhỏ hơn dân số thế giới, nên kho IPv4 đã cạn từ lâu.
Địa chỉ IPv6 gồm bao nhiêu bit?
Địa chỉ IPv6 gồm 128 bit, chia thành 8 nhóm, mỗi nhóm 16 bit viết bằng 4 chữ số hệ 16 (0 đến 9 và a đến f). Giao thức IPv6 hiện hành nằm trong RFC 8200 năm 2017. Dạng đầy đủ của một địa chỉ trông như sau: 2001:0db8:0000:0000:0000:8a2e:0370:7334.
Viết vậy quá dài, nên IPv6 có hai luật rút gọn. Số 0 đứng đầu mỗi nhóm được bỏ, nên 0db8 thành db8. Một chuỗi nhóm toàn số 0 liền nhau được thay bằng dấu "::", và mỗi địa chỉ chỉ được dùng "::" một lần. Áp hai luật, địa chỉ trên còn 2001:db8::8a2e:370:7334. Tổng số địa chỉ IPv6 là 2^128, khoảng 3,4 x 10^38. Riêng Việt Nam, trang chủ VNNIC ghi tổng lượng địa chỉ IPv6 đang quản lý là 33.435 tỷ tỷ tỷ (số liệu xem ngày 7/10/2026).
| Tiêu chí | IPv4 | IPv6 |
|---|---|---|
| Độ dài | 32 bit | 128 bit |
| Cách viết | 4 số thập phân, ngăn bằng dấu chấm | 8 nhóm hệ 16, ngăn bằng dấu hai chấm |
| Ví dụ | 203.0.113.42 | 2001:db8::1 |
| Tổng số địa chỉ | 2^32 (khoảng 4,3 tỷ) | 2^128 (khoảng 3,4 x 10^38) |
| Địa chỉ của chính máy (loopback) | 127.0.0.1 | ::1 |
Địa chỉ IP hoạt động thế nào?
Trong mạng máy tính, IP là địa chỉ ghi trên từng gói dữ liệu, gồm IP nguồn và IP đích. Mỗi router trên đường đi đọc IP đích rồi chuyển gói sang chặng kế tiếp gần đích hơn. Khi gói tới nơi, máy nhận lấy IP nguồn để biết phải trả lời về đâu.
Một lần bạn mở trang web đi qua các chặng sau:
- Máy bạn gửi yêu cầu tới modem Wi-Fi trong nhà bằng IP nội bộ, kiểu 192.168.1.5.
- Modem đổi IP nội bộ thành IP public do nhà mạng cấp (kỹ thuật NAT), rồi đẩy gói lên mạng của nhà mạng.
- Nhà mạng chuyển gói ra Internet, qua nhiều router, tới máy chủ của website.
- Máy chủ gửi nội dung về IP public của bạn. Modem nhớ yêu cầu ban đầu đến từ máy nào nên chuyển đúng về máy đó.
Con người nhớ tên miền, còn router chỉ hiểu IP. DNS là hệ thống đổi tên miền thành IP. Giả sử bạn gõ example.com, máy sẽ hỏi máy chủ DNS và nhận lại một địa chỉ, chẳng hạn 203.0.113.10, rồi mới kết nối tới địa chỉ đó. Địa chỉ IP có ý nghĩa gì nếu thiếu nó? Máy chủ sẽ không biết gửi trang web về đâu.
IP chỉ đưa dữ liệu tới đúng máy. Để tới đúng ứng dụng trong máy, gói tin còn ghi thêm số cổng (port). Trình duyệt mở trang HTTPS thường đi qua cổng 443. Nhờ số cổng, một máy có một IP vẫn mở được cùng lúc trình duyệt, Zalo và ứng dụng email.
Các loại địa chỉ IP
Địa chỉ IP thường được chia theo hai cách. Theo phạm vi dùng, có IP public dùng trên Internet và IP private chỉ dùng trong mạng nội bộ. Theo cách cấp, có IP tĩnh giữ cố định lâu dài và IP động thay đổi theo phiên kết nối. Một thiết bị luôn thuộc cả hai cách chia cùng lúc.
IP public và IP private
IP public là địa chỉ duy nhất trên Internet tại một thời điểm, do nhà mạng cấp cho đường truyền nhà bạn. IP private là địa chỉ trong mạng nội bộ, không đi thẳng ra Internet được. RFC 1918 dành riêng ba dải IPv4 cho mạng nội bộ:
- 10.0.0.0 đến 10.255.255.255 (10.0.0.0/8)
- 172.16.0.0 đến 172.31.255.255 (172.16.0.0/12)
- 192.168.0.0 đến 192.168.255.255 (192.168.0.0/16)
Modem gia đình ở Việt Nam thường lấy 192.168.1.1 hoặc 192.168.0.1 làm địa chỉ trang quản trị. Cả nhà có 10 thiết bị thì cả 10 cùng ra Internet bằng một IP public. Đó là lý do IP bạn xem trong cài đặt Windows (192.168.1.x) khác với IP mà website nhìn thấy.
IP tĩnh và IP động
IP động là địa chỉ nhà mạng cấp lại theo phiên. Nó có thể đổi khi bạn tắt bật modem hoặc sau một khoảng thời gian. Gói Internet gia đình của Viettel, VNPT, FPT thường dùng IP động. IP tĩnh giữ nguyên lâu dài và thường đi kèm gói doanh nghiệp. Người cần IP tĩnh là người chạy máy chủ riêng, xem camera từ xa theo IP hoặc mở VPN về văn phòng.
Trong mạng nhà, IP private cũng là IP động. Router chạy dịch vụ DHCP, cấp địa chỉ cho từng thiết bị theo thời hạn thuê. Hết hạn mà thiết bị không gia hạn, địa chỉ đó có thể sang tay máy khác. Máy in thì nên gán IP cố định trong router để các máy khác luôn tìm thấy nó.
Cách xem địa chỉ IP của bạn
Muốn biết IP của máy tính là gì, bạn cần tách hai con số: IP private trong mạng nhà và IP public ra Internet. IP public xem nhanh nhất bằng một trang kiểm tra IP. IP private xem trong cài đặt mạng của máy.
Trên Windows, mở Command Prompt, gõ ipconfig rồi tìm dòng "IPv4 Address". Trên macOS, lệnh tương ứng là ifconfig. Trên Linux là ip addr. Hướng dẫn từng bước cho Windows, macOS, điện thoại có trong bài cách xem IP máy tính.
Địa chỉ IP tiết lộ gì về bạn?
IP public cho người khác biết bạn dùng nhà mạng nào và đang ở khu vực nào, thường chỉ ở mức tỉnh hoặc thành phố. Địa chỉ IP không chứa tên, số điện thoại hay số nhà. Website nào bạn truy cập cũng ghi lại IP này trong nhật ký máy chủ.
Vị trí lấy từ cơ sở dữ liệu định vị IP, vốn ghép từng dải địa chỉ với một khu vực. Dữ liệu này hay lệch. Dùng 4G, IP của bạn có lúc hiện ở tỉnh khác vì lưu lượng đi ra Internet qua cổng của nhà mạng đặt nơi khác. Chỉ nhà mạng biết chính xác thuê bao nào giữ IP nào vào giờ nào.
Bạn có thể tra cứu một địa chỉ IP bất kỳ để xem nó thuộc nhà mạng nào, ASN gì và vị trí ước tính ở đâu. Muốn website không thấy IP thật, bạn phải đi qua VPN hoặc proxy. Lúc đó website chỉ thấy IP của máy chủ trung gian.
Ai cấp địa chỉ IP ở Việt Nam?
Địa chỉ IP ở Việt Nam đi qua 5 cấp: IANA phân khối lớn cho APNIC, APNIC cấp cho VNNIC, VNNIC cấp cho nhà mạng và doanh nghiệp, nhà mạng cấp IP public cho từng đường truyền, cuối cùng modem cấp IP private cho thiết bị trong nhà.
- IANA quản lý toàn bộ kho IPv4 và IPv6 của thế giới, chia thành khối lớn cho 5 tổ chức khu vực (RIR): AFRINIC, APNIC, ARIN, LACNIC và RIPE NCC.
- APNIC đặt trụ sở ở Brisbane (Úc), phụ trách khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.
- VNNIC (Trung tâm Internet Việt Nam) là tổ chức quản lý địa chỉ IP cấp quốc gia. Trang chủ VNNIC ghi Việt Nam có 1.127 thành viên địa chỉ IP và 896 mạng ASN (số liệu xem ngày 7/10/2026).
- Nhà mạng như Viettel, VNPT, FPT nhận khối địa chỉ rồi cấp IP public cho khách hàng.
- Modem trong nhà dùng DHCP cấp IP private cho điện thoại, laptop, TV.
Kho IPv4 tự do của IANA hết vào ngày 3/2/2011. APNIC chuyển sang cấp phát từ khối /8 cuối cùng ngày 15/4/2011. Từ đó các nhà mạng phải dùng chung IPv4 cho nhiều khách hàng và chuyển dần sang IPv6.
Các lớp địa chỉ IPv4 (A, B, C, D, E)
Các lớp địa chỉ IPv4 là cách chia cũ, dựa vào mấy bit đầu của octet thứ nhất. Lớp A, B, C dùng để cấp cho máy, lớp D dành cho multicast, lớp E để dự trữ. Từ năm 1993, Internet chuyển sang định tuyến CIDR (RFC 1519). Phân lớp nay chủ yếu còn trong giáo trình và đề thi tin học.
| Lớp | Bit đầu | Octet đầu | Mặt nạ mặc định | Dùng cho |
|---|---|---|---|---|
| A | 0 | 0 đến 127 | 255.0.0.0 (/8) | Mạng rất lớn, ít mạng |
| B | 10 | 128 đến 191 | 255.255.0.0 (/16) | Mạng cỡ vừa |
| C | 110 | 192 đến 223 | 255.255.255.0 (/24) | Mạng nhỏ, nhiều mạng |
| D | 1110 | 224 đến 239 | Không có | Multicast |
| E | 1111 | 240 đến 255 | Không có | Dự trữ |
Trong lớp A, dải 127 dành cho loopback và dải 0 dành cho mục đích đặc biệt, nên không cấp cho mạng thường. Đề thi hay hỏi kiểu "172.16.5.4 thuộc lớp nào". Octet đầu là 172, nằm trong 128 đến 191, nên đáp án là lớp B.
Địa chỉ IP lớp C là gì?
Địa chỉ IP lớp C có octet đầu từ 192 đến 223, ba octet đầu là phần mạng và octet cuối là phần máy, nên mỗi mạng có 254 máy dùng được. Ba bit đầu cố định là 110, còn 21 bit để đánh số mạng, nên lớp C có 2^21 = 2.097.152 mạng (xem thêm các lớp địa chỉ IP).
Câu hỏi thường gặp
Mỗi thiết bị có một địa chỉ IP riêng không?
Trong mạng nhà, mỗi thiết bị có IP private riêng. Ra Internet thì nhiều thiết bị chung một IP public qua NAT. Một máy cũng có thể giữ nhiều IP cùng lúc: một IPv4, vài IPv6, và nếu cắm cả dây mạng lẫn Wi-Fi thì mỗi cổng có địa chỉ riêng. Điện thoại dùng 4G nhận IP khác hẳn khi chuyển sang Wi-Fi.
Hai máy có thể trùng địa chỉ IP không?
Trong cùng một mạng thì không được. Hai máy cùng IP sẽ bị xung đột, hệ điều hành báo lỗi và một trong hai máy có thể mất kết nối. Thường do ai đó đặt IP tĩnh trùng với dải DHCP của router. Ở hai mạng khác nhau thì trùng là chuyện bình thường. Rất nhiều gia đình cùng có một máy mang IP 192.168.1.5 mà không ảnh hưởng gì nhau.
127.0.0.1 là gì?
127.0.0.1 là địa chỉ loopback, hay localhost, trỏ về chính máy đang dùng. Gói tin gửi tới đây không rời khỏi máy và không qua card mạng. Cả dải 127.0.0.0/8 đều dành cho loopback, còn IPv6 dùng ::1. Lập trình viên hay chạy thử website trên máy mình rồi mở bằng địa chỉ dạng http://127.0.0.1:8080.
Việt Nam đã dùng IPv6 nhiều chưa?
Trang chủ VNNIC ghi tỷ lệ chuyển đổi IPv6 của Việt Nam là 67,68% (số liệu xem ngày 7/10/2026). Đây là số do VNNIC công bố trên mục dữ liệu tài nguyên Internet Việt Nam. Khi mạng có IPv6, thiết bị thường nhận cả IPv4 lẫn IPv6 cùng lúc. Muốn biết máy mình có IPv6 chưa, chạy ipconfig trên Windows và tìm dòng "IPv6 Address" bắt đầu bằng 2 hoặc 3.








